Cách đây 73 năm, những ngày cuối tháng 8, đầu tháng 9/1953, trên mảnh đất huyện Tiên Lãng đã diễn ra một trong những cuộc chiến đấu chống càn quyết liệt, kéo dài và hào hùng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong trận càn Cờ Lốt (Claude), quân và dân Tiên Lãng dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, làng kháng chiến, hầm hào bí mật, kiên cường bám đất, bám làng, phối hợp với bộ đội liên tục đánh địch. Trên địa bàn các xã Bạch Đằng, Đoàn Lập, Cấp Tiến và Kiến Thiết trước đây – nay là xã Tân Minh, nhiều trận đánh đã đi vào lịch sử, làm nên truyền thống của một vùng quê giàu lòng yêu nước và khí phách cách mạng.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, huyện Tiên Lãng có vị trí chiến lược quan trọng. Với địch, đây là khu vực có ý nghĩa bảo vệ hậu cứ Kiến An, Hải Phòng; với lực lượng kháng chiến, Tiên Lãng vừa là hậu cứ, vừa là đầu cầu, bàn đạp tiến công vào khu vực địch kiểm soát. Từ đầu tháng 6/1953, trước âm mưu bình định đồng bằng Bắc Bộ trong kế hoạch Nava, cán bộ, đảng viên, dân quân du kích và Nhân dân đã được quán triệt chủ trương, tích cực xây dựng làng kháng chiến, chuẩn bị lực lượng, vũ khí, hầm hào, lương thực, thuốc men để sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới.
Ngày 28/8/1953, thực dân Pháp mở trận càn Cờ Lốt vào Tiên Lãng với lực lượng lớn, có bộ binh, pháo binh, lính dù, commando, xe lội nước, tàu chiến, ca nô và máy bay yểm trợ. Các mũi tiến công từ nhiều hướng nhằm bao vây, chia cắt địa bàn, phá khu du kích và tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Trong kế hoạch đó, Bạch Đằng và Cấp Tiến là những địa bàn mà các cánh quân địch dự kiến hội quân.

Nhưng trên chính vùng đất mà địch dự kiến sử dụng ưu thế quân số và hỏa lực để nhanh chóng kiểm soát, chúng đã vấp phải sức kháng cự quyết liệt của quân và dân địa phương.
Một trong những đòn đánh mở đầu đầy bất ngờ diễn ra tại Hán Nam, xã Kiến Thiết. Trước trận càn hơn hai tháng, Ban Chỉ huy Đại đội 295 và Ban Chỉ huy xã đội Kiến Thiết đã nhận định đây có thể là một trong những hướng tiến công lớn của địch. Kiến Thiết có ba mặt giáp sông Thái Bình, nhiều vị trí thuận lợi cho tàu chiến, ca nô đổ quân; từ đây địch có thể tỏa đi Cấp Tiến, Khởi Nghĩa, Đoàn Lập, Bạch Đằng. Trên cơ sở đó, một trận địa “độn thổ” bí mật được chuẩn bị tại khu vực bốt Hán Nam cũ.
Đêm 27/8, ca nô, tàu chiến chở quân địch xuất hiện dày đặc trên sông. Một bộ phận du kích Trì Hào cùng bộ đội Đại đội 295 bí mật ém quân trong công sự độn thổ, trong khi lực lượng chính bố trí hỏa lực yểm trợ ở phía bên kia đường. Sáng 28/8, hơn 900 quân địch, phần lớn là lính Âu - Phi, từ tàu chiến, ca nô đổ lên phía đông xã Kiến Thiết rồi chia thành nhiều mũi tiến sâu vào địa bàn.
Khi đội tiền tiêu của địch lọt vào trận địa Hán Nam, lực lượng phục kích đồng loạt nổ súng. Những chiến sĩ ém mình dưới công sự bất ngờ bật lên giữa đội hình địch, đánh giáp lá cà. Bị tiến công từ những vị trí không ngờ tới, đội hình quân Pháp nhanh chóng rối loạn. Theo tài liệu còn ghi, chưa đầy 10 phút chiến đấu, quân ta tiêu diệt trên 70 tên, làm bị thương nhiều tên khác, bắt sống 5 tên, trong đó có một quan ba Pháp, đồng thời thu nhiều súng đạn, quân trang. Ngay trong ngày và đêm 28/8, lực lượng ta bí mật cơ động lên Cấp Tiến, Khởi Nghĩa, tiếp tục bố trí trận địa đón đánh các mũi càn.
Tại Cấp Tiến, cuộc chiến đấu cũng diễn ra hết sức quyết liệt. Ngày 29/8/1953, khoảng 200 quân địch tiến công vào Thái Lai. Dân quân du kích Cấp Tiến phối hợp với một tiểu đội bộ đội huyện kiên cường chiến đấu từ sáng đến chiều, bẻ gãy 10 đợt tiến công, 30 tên địch bị tiêu diệt tại chỗ. Từ ngày 30/8 đến 4/9, khoảng 300 quân Âu - Phi tiếp tục tiến công Phú Xuân, Kinh Lương, Quan Bồ. Ba tiểu đội dân quân du kích cùng hai tiểu đội bộ đội huyện chi viện tiếp tục bám trận địa chiến đấu, tiêu diệt 57 tên địch.
Tinh thần chiến đấu ấy còn được khắc họa qua những con người rất trẻ. Trong số những tấm gương tiêu biểu của Cấp Tiến có anh hùng Đỗ Văn Bước. Khi mới 15 tuổi, trong một trận địch càn vào Thái Lai, người thiếu niên du kích từ hầm bí mật xông lên ném lựu đạn vào đội hình địch. Bị bắt và tra tấn, người chiến sĩ nhỏ tuổi vẫn giữ khí tiết. Đỗ Văn Bước cùng Phạm Ngọc Đa trở thành những hình ảnh tiêu biểu về tinh thần bất khuất của thiếu niên Hải Phòng trong những năm tháng chống càn.
Ở Đoàn Lập, ngay trước trận đánh, thế trận chiến tranh nhân dân đã được chuẩn bị khá toàn diện. Nhân dân tu sửa làng kháng chiến, đào hầm hào, làm chông tre, chông sắt, đạp lôi, rèn dao kiếm; mỗi làng chuẩn bị lương thực, ván, vải trắng, thuốc men, băng ca, võng cáng để phục vụ chiến đấu.
Chiều 28/8, khi quân địch từ Tuần Lương vượt cầu Đầm đánh vào Hộ Tứ Ngoại, hỏa lực du kích lập tức đánh trả, buộc chúng phải rút khi trời tối. Ngày hôm sau, các cánh quân địch tiếp tục tiến vào Tỉnh Lạc, Tử Đôi, Tiên Đôi Ngoại và Hộ Tứ Ngoại. Những trận đánh diễn ra quyết liệt. Bộ đội phối hợp với du kích tập trung hỏa lực đánh vào các mũi tiến công; khi địch tràn vào làng, lực lượng ta chủ động lùi về tuyến sau rồi phản kích. Trên đường tháo chạy, quân địch tiếp tục vấp phải trận địa mìn, chông được Nhân dân và du kích chuẩn bị từ trước.

Ảnh tư liệu minh họa
Không chỉ chiến đấu bằng súng đạn, Nhân dân Đoàn Lập còn tham gia bằng nhiều hình thức sáng tạo. Ngày 2/9, khi hai thuyền của địch vận chuyển vũ khí qua địa bàn, du kích nổ súng đánh trả. Tại Vân Đôi, tổ du kích do xã đội phó Phạm Văn Lựu chỉ huy phối hợp cùng khoảng 20 phụ nữ đồng thanh hô “xung phong”, khiến quân địch hoảng loạn. Lực lượng ta truy kích, thu hai thuyền, ba hòm đạn, hai khẩu súng cùng nhiều quân trang, quân dụng. Những ngày sau đó, phụ nữ các thôn còn trực tiếp đấu tranh buộc địch phải thả những người dân bị bắt trong các cuộc càn quét.
Ngày 20/9, địch tập trung khoảng 250 lính Âu - Phi, bảo chính đoàn cùng lực lượng ở bốt quận mở cuộc càn lớn vào Đoàn Lập. Bộ đội và du kích xã tổ chức đánh địch tại Vân Đôi, Tỉnh Lạc, Hộ Tứ Ngoại, Đông Xuyên Nội, bẻ gãy nhiều đợt tiến công. Sau hơn 20 ngày đêm, riêng quân và dân Đoàn Lập đã đánh 21 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 98 tên địch, bắn bị thương một máy bay, thu nhiều vũ khí, phương tiện và quân trang, quân dụng.
Cùng với Kiến Thiết, Cấp Tiến và Đoàn Lập, Bạch Đằng cũng là một địa phương quan trọng của vùng đất cách mạng Tiên Lãng. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Nhân dân Bạch Đằng từ người già đến trẻ nhỏ đều tham gia kháng chiến, góp sức vào cuộc đấu tranh bảo vệ quê hương. Nổi bật trong truyền thống ấy là tấm gương thiếu niên du kích Phạm Ngọc Đa, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, biểu tượng về lòng yêu nước, sự kiên cường, bất khuất của tuổi trẻ thành phố Hải Phòng.
Trận càn Cờ Lốt kéo dài hơn 20 ngày, từ 28/8 đến 20/9/1953. Theo tư liệu tổng hợp, quân và dân Tiên Lãng đã đánh 182 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 677 quân địch, bắn bị thương hai máy bay, thu nhiều vũ khí; đến ngày 20/9, lực lượng cơ động Pháp phải rút khỏi Tiên Lãng.
Nhìn lại những trận đánh trên vùng đất Kiến Thiết, Cấp Tiến, Đoàn Lập, Bạch Đằng có thể thấy sức mạnh làm nên chiến thắng không chỉ đến từ lòng quả cảm của những người trực tiếp cầm súng. Đó còn là sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân: sự lãnh đạo, chuẩn bị từ sớm; sự phối hợp giữa bộ đội với dân quân du kích, giữa các địa bàn; việc xây dựng làng kháng chiến, giữ bí mật, tạo bất ngờ; và đặc biệt là sự tham gia của đông đảo Nhân dân. Chính thực tiễn chiến đấu đó đã đúc kết bài học về xây dựng mỗi thôn thành một pháo đài, kết hợp chặt chẽ giữa bộ đội và dân quân du kích, giữa các thôn, các xã và giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị.
73 năm đã trôi qua. Bạch Đằng, Đoàn Lập, Cấp Tiến và Kiến Thiết – những địa danh từng in dấu những trận chống càn quyết liệt – nay cùng chung một mái nhà, xã Tân Minh, thành phố Hải Phòng. Sự hội tụ về địa giới hôm nay cũng là sự hội tụ của những mạch nguồn lịch sử, nơi truyền thống cách mạng của mỗi vùng quê cùng bồi đắp nên chiều sâu văn hóa và bản sắc của Tân Minh.
Trên vùng đất ấy, ký ức về Hán Nam, Thái Lai, Kinh Lương, Quan Bồ, Hộ Tứ, Đông Xuyên, Vân Đôi, Tỉnh Lạc… không chỉ nhắc nhớ một thời bom đạn. Đó còn là những “địa chỉ” của lòng yêu nước, của ý chí bám đất, giữ làng và sức mạnh đoàn kết Nhân dân. Những tấm gương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như Phạm Ngọc Đa, Đỗ Văn Bước, Phạm Văn Tấc, Nguyễn Văn Hấng cùng biết bao cán bộ, chiến sĩ, dân quân du kích và Nhân dân đã chiến đấu, hy sinh trở thành một phần di sản tinh thần quý báu được trao truyền qua các thế hệ.
Từ những làng quê từng bị bom đạn cày xới, những thế hệ hôm nay đang tiếp tục viết câu chuyện về một vùng đất mới bằng tinh thần đoàn kết, ý chí vươn lên và khát vọng phát triển. Lịch sử anh dũng phá càn năm 1953 vì thế không chỉ là niềm tự hào để nhắc nhớ, mà còn là nguồn sức mạnh tinh thần để cán bộ, đảng viên và Nhân dân Tân Minh hôm nay trân trọng quá khứ, gìn giữ truyền thống, chung sức xây dựng quê hương ngày càng phát triển.
Tân Minh hôm nay là một tên gọi mới, nhưng được bồi đắp bởi những miền quê có lịch sử lâu đời và truyền thống cách mạng vẻ vang. Từ Bạch Đằng, Đoàn Lập, Cấp Tiến đến Kiến Thiết, những chiến công trong mùa thu năm 1953 vẫn còn vang vọng, nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau về giá trị của độc lập, hòa bình; về sức mạnh của lòng dân, của khối đại đoàn kết và ý chí không khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào.